Lạc bước rừng Thiền

Nguyễn Diệu Tâm

Ðó là một ngày đầu thu khi tôi lạc bước đến rừng Thiền Huyền Không Sơn Thượng, một ngôi chùa theo hệ phái Phật giáo Nam tông nằm trên lưng chừng núi thuộc huyện Hương Trà, cách thành phố Huế 14 km về hướng Tây.

Tôi có cảm giác như mình đang lạc vào tiên cảnh với mây trắng mờ ảo phủ vây núi non trùng điệp, rừng thông xanh thẫm, những mặt hồ trong vắt lung linh phản chiếu bầu trời và cỏ hoa tươi đẹp.

Trước khi đến nơi này, tôi có nghe nhiều người nói về ngôi chùa nổi tiếng cùng cảnh vật thần tiên nơi đây và vị sư trụ trì vô cùng tài hoa. Vừa đi tôi vừa nghĩ đến những câu thơ tuyệt đẹp của thi sĩ Phạm Thiên Thư:

“Rằng xưa có gã từ quan,
Lên non tìm động hoa vàng nhớ nhau.
Thôi thì thôi đừng ngại mưa mau
Ðưa nhau ra tới bên cầu nước xuôi
Sông này đây chảy một giòng thôi
Mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông…” (1)

Không hiểu sao tôi đã quên mất hai chữ “nhớ nhau” mà trong đầu tôi chỉ có hai chữ “ngủ quên”. Xin mạn phép nhà thơ Phạm Thiên Thư cho tôi tạm đổi một chút trong hai câu đầu tiên của bài thơ “Ðộng hoa vàng” khi tôi đang trong cảnh giới này :

“Rằng xưa có gã từ quan,
Lên non tìm động hoa vàng … ngủ quên”!

Thanh tịnh

Tôi không biết vị sư trụ trì chùa, Tỳ khưu Giới Ðức – Minh Ðức Triều Tâm Ảnh, có phải đã là “quan” để “từ” hay không, nhưng chắc chắn một điều là ông đã từ bỏ cuộc sống của con người bình thường đầy hỉ nộ ái ố để bước chân vào chốn Thiền môn thanh tịnh.

Tuy nhiên, sau đó khi gặp ông rồi, tôi mới hiểu ông không hề bỏ quên cuộc đời, thân ông bỏ nhưng tấm lòng của ông đối với đời được san sẻ từ bi bao la.

Là bậc cao tăng uy tín, đào tạo nhiều tăng tài cho Phật giáo nguyên thủy Việt Nam, ông còn là một nhà sư giỏi thơ văn, hội họa và mỹ thuật, đặc biệt nổi tiếng về thư pháp. Phần lớn những xây dựng ở rừng Thiền này được các sư thầy làm bằng tay, từ những cái am, đình, những ao sen, đến những chiếc cầu gỗ xinh xinh bắc ngang qua hồ.

Cả cánh rừng thơ mộng này nào đâu ông chỉ hưởng riêng mình, mỗi góc vườn xinh đẹp là một món quà tặng cho khách thập phương, mỗi câu thơ trên đá là một lời nhắn nhủ, là ánh sáng soi rọi vào hồn người trần thế.

Trước đây ngoài đời Sư là thầy Nguyễn Duy Kha, từng là giáo sinh khóa 2 trường Sư Phạm Quy Nhơn. Xuất gia năm 1973, thọ giới Sa di năm 1973 và thọ giới Tỳ kheo năm 1977 tại chùa Tam Giới, Ðà Nẵng.

Sau đó Sư sáng lập chùa Huyền Không từ một mái lá dưới chân đèo Hải Vân năm 1978. Ðến năm 1989, Sư thành lập Huyền Không Sơn Thượng II, rộng 50 ha., chính là nơi chúng tôi đang đến.

Lối vào Huyền Không Sơn Thượng

Con đường đất đỏ dẫn đến Huyền Không vẫn còn hoang sơ và gập ghềnh không dễ đi, thế nhưng khi đến nơi rõ ràng là một khung cảnh thần tiên thơ mộng đang hiện ra trước mắt mọi người.

Bước qua rừng thông mà lá thông vàng lót dày êm ái dưới mỗi bước đi, vừa đi vừa ngắm những ao sen trắng điểm hoa súng tím, tâm hồn tôi chợt dịu nhẹ một cách lạ lùng.

Ði đến đâu ta có thể thấy thơ đến đó. Những câu thơ được khắc theo kiểu thư pháp bay bướm trên đá, trên gỗ…

Tôi không ghi chép lại nổi hết tất cả những câu thơ đã rải trên đường, cứ mỗi khoảng cách vài mét là có một phiến đá, một tấm gỗ thông với thơ.

Từ lối vào rừng Thiền là một bảng nội quy bằng thơ:

“Là người lịch sự văn minh,

Giữ gìn chút cảnh chút tình sau đây:

Không nên đốn củi, chặt cây.

Không nên nhóm lửa lan lây cháy rừng.

Không nên xả rác lung tung,

Không nên câu cá, cũng đừng bẻ hoa……

Ðể còn chút mộng chút mơ,

Ðể còn nét chữ câu thơ … hồn thiền.”

Nội quy

Không biết có phải vì cái bảng nội quy rất “thơ” đó hay không mà tuyệt nhiên trên quãng đường dài hơn cây số đến Am Mây Tía, nơi ở của tỳ khưu Giới Ðức, mọi thứ đều đẹp đẽ, sạch sẽ dù rải rác đây đó tôi thấy có nhiều nhóm khách thập phương cùng đến viếng chùa. Cây cối được chăm sóc tốt tươi, hoa lá tưng bừng, trong nhiều cái ao bên đường những bông súng màu tím tươi vui khoe sắc.

Chúng tôi đi qua những chiếc cầu bằng gỗ, một khu rừng thông, vườn trúc, thấp thoáng qua rừng cây những mái chùa cong cong hết sức nên thơ.

Từ lúc bước vào rừng Thiền tôi đã nghĩ vị trụ trì này rất lạ.

Rất tài hoa, lãng mạn khi tạo dựng được cả một khu rừng và cảnh chùa theo lối vườn Huế thi vị như thế này.

Ngoài rừng  thông, vườn trúc, vườn kiểng hơn 100 chậu non bộ, những ao sen hồng, súng tím, còn có cả một vườn lan khoảng 200 loại lan quý bốn mùa khoe sắc là Mặc Lan, Đông Lan, Tứ Thời, Hồng Ðiểm, Bạch Ngọc, Nhất Ðiểm Hồng, Ðại Kiều, Tiểu Kiều v.v… cùng một vườn hồng phía trước với hàng trăm loại hồng: Hồng Bạch, Hồng Nhung, Hồng Vàng …

Rải rác đây đó là những mái am, ngay cả điện thờ Phật chính cũng nhỏ nhắn xinh xắn, kiến trúc đơn giản mộc mạc.

Tất cả đều toát lên tinh thần và tâm hồn Việt, không chút lạ lùng ngoại lai.

Tôi cũng nhận thấy ông chịu ảnh hưởng nhiều từ thơ Thiền của các vị thiền sư.

Ngay bức tường đá trên đường vào là bài  thơ của thiền sư Viên Minh:

“Viết bài thơ trên cát,
Con sóng vỗ xóa đi.
Vô tình đâu nhớ được,
Mình viết bài thơ gì.”

Rừng Thiền Huyền Không Sơn Thượng

Nhóm bạn của chị tôi đã đi đâu từ lâu, tôi vẫn còn thơ thẩn trong rừng thông nghe chim hót và ngắm những bông hoa bên đường. Rồi tôi đi theo những câu thơ.

Chợt cảm thấy như mình đang sống trong câu chuyện cổ tích lạc vào rừng xanh và tìm về nhà theo những viên đá đánh dấu được viết bằng thơ trên đường.

Rất thích thú với một số câu thơ được khắc trên đá và gỗ trên đường vào:

“Bước đi ai nhớ dấu chân,
Khói sương khỏa lấp tiền thân thuở nào”

Ở một góc khác:

“Ta cúi xuống, nhặt dấu chân trên cỏ,
Thấy tiền thân, sương ướt, áo chưa khô”

Hay:

” Thương ai đá đứng, cỏ nằm
Khói sương cảo lục, con trăng cõi về”.

Rừng trúc

Trước cổng tam quan nhà chùa theo dáng cây trúc có một cái bảng gỗ “Phong Trúc Am” và hai câu đối buông hai bên:

“Rừng gió vi vu rớt một tiếng chim, sao tĩnh lặng.

Khóm trúc xào xạc, rụng vài chiếc lá, động vô thanh”.

Thấp thoáng đã thấy Am Mây Tía:

“Hang xanh mây tía ẩn cư,

Phương này trăng nước thi thư tọa đàm”.

Nơi đây treo rất nhiều thư pháp:

“Một cõi cỏ thơm, thơ núi lặng,

Bốn bề mây trắng bút non xanh. “

Một số câu thơ nhắc nhở con người nhớ về cha mẹ:

“Cha cho gánh chữ ngần vai,

Mẹ cho giọt nắng soãi dài tuyết đông”.

Hay chiêm nghiệm về cuộc đời:

“Ðường đời vút cánh chim hồng,

Lối về chi sá bão dông tình đời”.

Phương Thảo Ðịa

Tôi đi qua một khu vườn, cổng mang bảng gỗ “Phương Thảo Ðịa”, lối vào vườn cỏ thơm. Ba chữ này có lẽ đã được Tỳ khưu Giới Ðức lấy ý từ một bài thơ nổi tiếng của Thôi Hiệu, nhà thơ đời Ðường khi nói về thú ăn chơi tao nhã bốn mùa của thi nhân:

“Xuân du phương thảo địa
Hạ thưởng lục hà trì
Thu ẩm hoàng hoa tửu
Ðông ngâm bạch tuyết thi” (2)

Xin tạm dịch nghĩa:

“Xuân thăm miền cỏ thơm
Hạ ngắm ao sen biếc
Thu uống rượu cúc vàng
Ðông ngâm thơ tuyết trắng”.

Am Mây Tía

Càng đi, tôi càng thấy rất thích những cái tên mà Sư thầy đã đặt cho từng khu vực,

với những câu đối hay:

“Bút vẫy rừng không, mây gió bâng khuâng, trăng sáng chữ
Thơ chơi lũng vắng, khói sương lãng đãng, đá ngời văn!”

Ở Am Mây Tía:”Thiền đạo vô ngôn hoa cỏ nói,
Kinh Thư đa nghĩa nước trăng cười”

Tại Nghinh Lương Đình:

“Lãng đãng càn khôn, thơ thắp con tim, tình ấm lại
Phiêu bồng nhật nguyệt, thiền soi nét bút, chữ trong hơn”

Cùng hai câu thơ thật đẹp:

“Nghe đạo, hương rừng theo gió đến
Ðọc thơ, trăng sáng vượt non về!”

Thư Pháp Ðình

Thư Pháp Am, nằm đối diện với đồi thông bên kia Sơn Ảnh Hồ, là nơi trưng bày thư pháp và cũng là nơi để tao nhân mặc khách ghé thăm mặc sức họa thư pháp bằng bút tre trên giấy:

“Chữ chẳng là mây, thăm phố chợ, dạo non xanh, sương khói lơ thơ hòa khí bút
Thơ đâu phải nước, ngủ suối trăng, mơ sông biếc, rong bèo lác đác dệt tình văn”

Dễ thương nhất là hai câu được đặt ngay dưới thềm bước vào chánh điện lễ Phật:

“Xin khách để bụi dưới thềm,
Cho thơm cửa Phật, cho thiền nở hoa”

Hai câu này vừa dí dỏm, hiền hậu và rất thơ khi nhắc khách thập phương nhớ bỏ giầy dép bên ngoài, thật là dễ thương chưa thấy nơi đâu có.

Chánh điện Chùa Huyền Không

Phải nói rằng khi viếng thăm cảnh chùa Huyền Không, ngoài những bức thư pháp, tôi rất thích thú với những cái tên được đặt cho các am, đình ở đó như Am Mây Tía, Am Trăng Ngủ, Nghinh Lương đình v.v…

Nhóm các anh chị mà tôi đi cùng đều là giáo sinh Cao đẳng Sư Phạm Quy Nhơn khóa 7. Khi nghe các anh chị giới thiệu, sư thầy Giới Ðức cũng nói rằng thầy là đồng môn khóa 2. Rồi thầy tặng cho chúng tôi mỗi người một cuốn Con Gái Ðức Phật, một cổ sử truyện về “hành trang của chư Thánh Ni và những cận sự nữ đặc biệt và thù thắng” (3)

Thầy cũng giải thích vì sao có tên “Am Mây Tía”, đó là lấy từ ý thơ Thiền của Vua Trần Nhân Tông, người đã từ bỏ ngai vàng điện ngọc lên núi Yên Tử tu hành và thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử vào đầu thế kỷ 14.

Am Mây Tía

Những bài kệ trong sách được tác giả diễn dịch hay như thơ.

Thấy có mấy tập thơ đẹp tôi xin mua nhưng Tỳ khưu nói sách đã hết, đó là những tập cuối cùng còn lại nên thôi, lòng thấy tiếc.

Khi chúng tôi khen cảnh chùa quá đẹp, tỳ khưu nói rằng ông chỉ muốn đem đến cho khách thập phương niềm hạnh phúc của sự cảm nhận cái đẹp thiên nhiên.

Tôi nghĩ rằng đó là một mong muốn vô cùng từ bi, đẹp đẽ của một vị cao tăng đáng kính. Trên đường về, lòng tôi vẫn thấy nao nao vì những gì đã được chiêm ngưỡng.

Một ngôi chùa đơn sơ, không đồ sộ, bằng gỗ rất khiêm tốn đơn giản, làm bằng tay đôi chỗ thật đơn sơ nhưng sao rất vấn vương lòng người.

Tôi lại nghĩ đến những ngôi chùa đồ sộ ở thành phố với kiến trúc cầu kỳ nặng nề gây cảm giác chật chội nhức mắt.

Về Huế, đi thăm chùa Thiên Mụ, nơi tôi đã quy y với Cố Thượng tọa Thích Ðôn Hậu từ những ngày còn bé, dù còn phảng phất mùi hương kỷ niệm thời thơ ấu thường theo mẹ đến chùa nhưng dường như đã không còn cảm giác thanh tịnh thơ mộng như ngày xưa khi nay có quá nhiều đoàn du khách theo chương trình du lịch nhồi nhét cho đầy và mỗi lần đến tham quan chỉ được giới hạn trong chừng nửa tiếng để rồi vội vã xuống thuyền ngược dòng sông Hương về lại thành phố.

Tôi cũng không thích các hàng quán thương mại và dịch vụ ăn theo du lịch ồn ào bên ngoài, đã làm mất đi nhiều vẻ tôn nghiêm và nét đẹp thơ mộng dưới chân chùa Thiên Mụ.

Mặt hồ soi bóng núi

Cái đẹp ở Huyền Không là cả một không gian Thiền tĩnh mịch, sâu lắng.

Vắng vẻ vì khá xa thành phố, nhưng cảnh quan tạo cho du khách cảm giác trở về với thiên nhiên nên thơ mà rũ bụi trần.

Con người bỗng thấy thật bé nhỏ trước thiên nhiên vô cùng, thấy mình trở nên hiền hòa như nước như đất, lành như cây như hoa, và mọi ưu tư về cuộc đời dường như tan biến, chỉ còn ước mơ:

“Cho tôi mơ giấc mộng dài, Ðừng lay tôi nhé cuộc đời chung quanh”! (4)

Tháng 8. 2012

Chú thích

(1) Ðộng Hoa Vàng – Thơ Phạm Thiên Thư

(2) Tứ Thời Thi – Thơ Thôi Hiệu
(3) Trích trong tác phẩm “Con Gái Ðức Phật” của Tỳ Khưu Giới Ðức – Minh Ðức Triều Tâm Ảnh
(4) Mơ Giấc Mộng Dài – Nhạc Phạm Duy

One thought on “Lạc bước rừng Thiền

  1. Vườn Thiền

    Cánh vàng chao xuống hồ thu
    Hương hoa cúc thoảng trong khu vườn chiều
    Ngàn thông xõa tóc đìu hiu
    đỉnh Quang Du quyện ít nhiều khói mây
    hồ Tuyền Lâm thoáng hơi may
    Tiếng đồng chung vong ngân dài tiền non
    Nhắc nhân sinh chữ sắc không
    Thất tình lục dục trong vòng luân xa
    Vườn trần một bãi phù hoa
    Lợi danh phú quí có là phù du
    Mấy ai vào cõi chân như
    Để hồn trầm láng tron khu vườn thiền ?

    Nghinh Nguyên

Gửi phản hồi và ý kiến đóng góp tại ô dưới đây :

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s